Tiến sĩ Luật,
Luật sư
Ng. Phương Nam
và cộng sự
Đối chứng là việc đối chiếu, so sánh các chứng cứ nhằm làm sáng tỏ về một vụ việc và chứng minh, kết luận một sự việc, hiện tượng nào đó. Trong tố tụng hình sự, việc đối chứng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh vụ việc, tìm ra sự thật khách quan, toàn diện và đầy đủ. Trong quá trình tố tụng, việc tìm ra chân lí của vụ việc liên quan mật thiết đến quyền, lợi ích của các bên nên các bên có quyền đưa ra các chứng cứ, lí lẽ để chứng minh mình vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm mình phải gánh chịu. Để thực hiện đối chứng, các cơ quan tiến hành tố tụng được phép áp dụng nhiều biện pháp khác nhau được pháp luật quy định, trong đó có việc tiến hành cho các bên đối chất.
Đối chất là hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự đồng thời là biện pháp nghiệp vụ của Cơ quan điều tra.
Trường hợp để tiến hành đối chất là khi có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn.
"Điều 189. Đối chất
1. Trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối chất.
2. Nếu có người làm chứng hoặc bị hại tham gia thì trước khi đối chất Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản.
3. Khi bắt đầu đối chất, Điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Sau khi nghe đối chất, Điều tra viên có thể hỏi thêm từng người.
Trong quá trình đối chất, Điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan; có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau; câu hỏi và trả lời của những người này phải ghi vào biên bản.
Chỉ sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong mới được nhắc lại những lời khai trước đó của họ.
4. Biên bản đối chất được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này. Việc đối chất có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
5. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể tiến hành đối chất. Việc đối chất được tiến hành theo quy định tại Điều này".
Đối chất chỉ tiến hành khi những người tham gia tố tụng có lời khai mâu thuẫn nhau và mặc dù đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng không giải quyết được mâu thuẫn. Đối tượng đối chất có thể là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng.
Trước khi đối chất, điều tra viên phải nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ án, đặc biệt là các lời khai có mâu thuẫn nhau, nghiên cứu nhân thân của người được đưa ra đối chất để xác định những vấn đề cần phải đưa ra đối chất. Điều tra viên phải vạch kế hoạch đối chất, dự kiến các câu hỏi và tình huống xảy ra, cách giải quyết các tình huống đó. Điều tra viên phải thông báo cho viện kiểm sát cùng cấp biết và viện kiểm sát phải cử kiểm sát viên tham gia cuộc đối chất. Nếu kiểm sát viên vắng mặt phải ghi rõ vào biên bản đối chất.
Nếu đối chất có bị hại hoặc người làm chứng tham gia thì điều tra viên phải giải thích cho họ biết việc cố tình khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 382 BLHS, nếu từ chối khai báo thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 382 và Điều 383 BLHS. Việc giải thích này phải được ghi vào biên bản.
Khi bắt đầu đối chất, điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Khi đã nghe những lời khai ưong đối chất, điều fra viên có thể hỏi thêm từng người. Điều tra viên cũng có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau; câu hỏi và ưả lời của những người này được ghi vào biên bản. Trong trường hợp cần thiết phải nhắc lại lời khai trước của người tham gia đối chất thì điều tra viên chỉ được công bố lời khai đó khi họ đã khai xong. Điều này đảm bảo cho lời khai của người đối chất được khách quan. Sau khi đã công bố lời khai trước đây của người tham gia đối chất, điều tra viên có thể yêu cầu họ giải thích thêm.
Kết quả của việc đối chất có thể là người tham gia đối chất thay đổi lời khai trước của mình, khai thêm những tình tiết mới nhưng có thể họ vẫn khai như cũ. Việc đối chất có thể được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Điều tra viên phải lập biên bản việc đối chất, biên bản đối chất được lập như quy định đối với biên bản hỏi cung bị can. Trong trường hợp cần thiết, kiểm sát viên có thể tiến hành đối chất và việc này được tiến hành theo quy định chung.
Biện pháp đối chất chỉ đạt hiệu quả trong trường hợp những người tham gia đối chất không có xung đột lợi ích, không có quan hệ gia đình, họ hàng, bạn bè, không cố tình che dấu về các tình tiết của vụ án, việc khai mâu thuẫn về các tình tiết của vụ án là do khả năng tri giác, ghi nhớ của những người tham gia đối chất khác nhau, trường hợp này, Điều tra viên và Kiểm sát viên chỉ cần có cách tác động phù hợp để những người tham gia đối chất nhớ lại chính xác về các tình tiết của vụ án.
Vụ án thuộc trường hợp phải tiến hành đối chất, một trong các đối tượng tham gia đối chất cố tình che dấu thông tin về các tình tiết của vụ án, trường hợp này Điều tra viên, Kiểm sát viên phải đưa ra tài liệu, chứng cứ để đấu tranh, việc đối chất mới có hiệu quả; quá trình cho các đối tượng tham gia đối chất trình bày ý kiến, hỏi lẫn nhau và tranh luận với nhau, Điều tra viên và Kiểm sát viên cần phải quan sát thái độ, biểu hiện tâm lý của các đối tượng tham gia đối chất để đánh giá lời khai nào là đúng, lời khai nào không đúng, gian dối, từ đó có niềm tin nội tâm để thu thập, củng cố các tài liệu, chứng cứ đảm bảo tính chính xác, đúng đắn và khách quan.
Khi bắt đầu đối chất, Điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ.
Sau khi nghe đối chất, Điều tra viên có thể hỏi thêm từng người. Việc hỏi thêm người nào trước, người nào sau, câu hỏi đưa ra với từng người đối chất phụ thuộc vào hồ sơ, tài liệu của vụ án, phụ thuộc vào tính toán chiến thuật và kinh nghiệm của Điều tra viên. Điều tra viên có thể sử dụng câu hỏi vạch trần lời khai gian dối, câu hỏi kiểm tra lời khai, câu hỏi gợi nhớ lại...
Trong quá trình đối chất, Điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan. Những chứng cứ, tài liệu, đồ vật này đã được Điều tra viên nghiên cứu hồ sơ vụ án và chuẩn bị từ trước. Loại và thứ tự chứng cứ, tài liệu, đồ vật đưa ra phụ thuộc vào diễn biến của cuộc đối chất, vào kinh nghiệm của Điều tra viên.
Có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau, câu hỏi và trả lời của những người này phải ghi vào biên bản. Chỉ sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong mới được nhắc lại những lời khai trước đó của họ.
Thứ nhất, đối chất là biện pháp điều tra được áp dụng trong trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người tham gia tố tụng hình sự, điều này có nghĩa là đối chất chỉ có thể được tiến hành giữa những người có tư cách là người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự được khởi tố và đồng thời phải là những người đã có lời khai về các tình tiết của vụ án, không thể đối chất giữa những người chưa có lời khai hoặc những người không buộc phải khai báo trước các cơ quan tiến hành tố tụng. Vấn đề này còn có quan điểm nhận thức chưa thống nhất.
Thứ hai, vụ án đang trong quá trình giải quyết tin báo về tội phạm, chưa có quyết định khởi tố vụ án hình sự, chưa có quyết định khởi tố bị can, cơ quan điều tra, điều tra viên có được tiến hành đối chất hay không. Vấn đề này cũng có những quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng: Vụ án đang trong quá trình xử lý, giải quyết tin báo về tội phạm, chưa có quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, cơ quan điều tra không được tiến hành biện pháp đối chất, vì nếu tiến hành đối chất trong giai đoạn giải quyết tin báo về tội phạm là vi phạm thủ tục tố tụng. Quan điểm thứ hai cũng là quan điểm của tác giả: Vụ án đang trong quá trình giải quyết tin báo về tội phạm, mặc dù chưa có quyết định khởi tố vụ án hình sự, chưa có quyết định khởi tố bị can, nhưng xét thấy có những mâu thuẫn mang tính chất quyết định để xem xét có khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hay không, cần thiết cơ quan điều tra, điều tra viên cho tiến hành đối chất để xác định có hay không có hành vi phạm tội, tội phạm và kết quả đối chất là cơ sở, nguồn chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án.
Thứ ba, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chưa có quy định đối chất của Thẩm phán tại phiên tòa, mặc dù hoạt động đối chất tại phiên tòa trên thực tế có thực hiện. Quá trình xét hỏi, tùy tính chất, mức độ phức tạp của từng vụ án xét thấy lời khai của các bị cáo mâu thuẫn với lời khai có trong hồ sơ vụ án hoặc tại phiên tòa, bị cáo phản cung không nhận tội. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cho đối chất giữa các bị cáo hoặc giữa bị cáo với bị hại, với người làm chứng và những người có liên quan, để làm rõ những tình tiết còn mâu thuẫn, Thẩm phán công bố lời khai của họ tại giai đoạn điều tra nếu thấy lời khai tại phiên tòa có mâu thuẫn, cho cách ly giữa bị cáo này với bị cáo khác, sau đó cho đối chất giữa các bị cáo để làm sáng tỏ bản chất, sự thật của vụ án.